Sách lược bảo vệ thị phần của nhãn hiệu công nghệ cao

Nhãn hiệu công nghệ cao luôn có nhu cầu phải ra sức phổ cập các chuẩn công nghệ của mình cho thị trường nhằm tăng cường rào cản đối với các đối thủ cạnh tranh hoặc các sản phẩm thay thế.

Tập đoàn Microsoft đã xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường phần mềm và thị trường máy tính tại VN với trên 20 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, nhiều  sáng chế liên quan đến phần mềm [13] và quyền tác giả đối với hàng loạt chương trình máy tính…

Cũng như tình huống đã gặp phải tại Trung Quốc, các phần mềm sao chép lậu vừa xâm phạm về quyền tác giả, vừa xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với các nhãn hiệu tại thị trường VN đã diễn ra một cách tràn lan. Do vậy, Microsoft đã xúc tiến nhiều chiến dịch pháp lý khác nhau như: yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính tiến hành ngăn chặn và xử phạt các hành vi xâm phạm, cộng tác chặt chẽ với các cơ quan trung ương có liên quan để hỗ trợ và thúc đẩy việc ban hành các chính sách tăng cường bảo hộ quyền SHTT cho các sản phẩm phần mềm …

Tuy nhiên, đứng ở góc độ chiến lược nhãn hiệu, khả năng đào thải nhanh của các công nghệ mới luôn là một nguy cơ tiềm ẩn đối với các nhãn hiệu phát triển dựa trên lợi thế về công nghệ. Trong trường hợp của Microsoft, đó là các phần mềm mã nguồn mở đang được ra sức phát triển bởi nhiều đối thủ khác nhau, thí dụ như hệ điều hành Linux đang luôn tìm kiếm cơ hội thay thế hệ cho hệ điều hành mang nhãn hiệu Window.

Do vậy, nhãn hiệu công nghệ cao luôn có nhu cầu phải ra sức phổ cập các chuẩn công nghệ của mình cho thị trường nhằm tăng cường rào cản đối với các đối thủ cạnh tranh hoặc các sản phẩm thay thế.

Các chiến thuật thường được sử dụng là:

  1. Phổ cập các công nghệ cơ bản với giá rẻ hoặc giá phải chăng để có thể dành thị phần cao đối với các công nghệ phụ thuộc. Thí dụ, nếu hệ điều hành Window được cài đặt rộng rãi, các phần mềm ứng dụng chạy trên nền Window như DOS, word, excel … vốn luôn được cải tiến cũng sẽ được tiêu thụ mạnh mẽ. Các biện pháp thực hiện tương ứng là các chương trình cung cấp máy tính giá rẻ cho sinh viên, cho người nghèo …
  2. Tạo dựng các đối tác và đối thủ cạnh tranh thích hợp. Thí dụ, Microsoft tiến hành hợp tác và chuyển giao công nghệ để giúp công ty FPT phát triển nhãn hiệu máy tính E-LEAD. Khi này: FPT là một đối tác vừa giúp triển khai các dòng máy tính giá rẻ để phổ cập các chuẩn công nghệ của Microsoft, vừa không gây ảnh hưởng đến hình ảnh công nghệ cao của Microsoft. Mặt khác, nếu FPT có thể phát triển thành một đối thủ cạnh tranh sở tại có tiềm lực, thì đối thủ này ít nhiều vẫn có thể lệ thuộc vào một số công nghệ của Microsoft, đồng thời, lại có thể giúp Microsoft ngăn cản bớt khả năng phát triển thị phần của một số đối thủ quốc tế mạnh hơn khác trên thị trường VN.

Do vậy, việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền của Microsoft gần như chỉ mang tính nhắc nhở chứ không kiên quyết tiến hành một cách triệt để, mặc dầu pháp luật SHTT VN hiện hành đã cung cấp đủ các biện pháp xử lý hành chính cần thiết và Chính phủ VN cũng đã thể hiện thiện chí rất cao trong việc bảo vệ quyền SHTT của các nhãn hiệu trong lĩnh vực phần mềm.

Bài học rút ra qua tình huống này là: hoạt động bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu cần được đặt trong khuôn khổ một sách lược pháp lý chung phục vụ tốt nhất cho các chiến lược kinh doanh. Thí dụ, đối với Microsoft, nhu cầu xây dựng lợi thế công nghệ của nhãn hiệu (qua việc phổ cập các chuẩn công nghệ liên quan) là quan trọng hơn nhu cầu xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT của hệ thống bán buôn và bán lẻ các thiết bị máy tính trên thị trường VN.

Sách lược tự vệ khi đã không đánh giá hết vai trò của các tài sản trí tuệ khác đối với nhãn hiệu:

Các phương tiện truyền thông cũng đã đưa tin nhiều về việc doanh nghiệp tư nhân võng xếp Duy Lợi đã đấu tranh thành công trong việc tuần tự yêu cầu hủy bỏ hai bằng độc quyền sáng chế đã được cấp tại Nhật và Mỹ, do xung đột quyền với kiểu dáng công nghiệp [14] “Khung mắc võng” đã được bảo hộ tại VN của Duy Lợi.

Dưới đây sẽ sử dụng quan điểm quản trị tài sản trí tuệ để cung cấp thêm một cách phân tích mới và bản chất hơn về vấn đề như sau:

Khi xúc tiến việc đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp nêu trên, bản thân DNTN Duy Lợi và công ty tư vấn về SHTT cho Duy Lợi đã không nhận biết đầy đủ rằng, bên cạnh hình dáng bên ngoài của khung mắc võng, thì nhiều yếu tố kỹ thuật được sử dụng trong khung mắc võng đó  cũng là các sáng chế có thể bảo hộ độc quyền theo pháp luật VN và nhiều nước khác.

Sau đó, Cơ quan Sáng chế Nhật (JPO) đã cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số JP 3081528 và Cơ quan Nhãn hiệu và Sáng chế Mỹ (USPTO) đã cấp Bằng độc quyền sáng chế số US 6467109 B1 cho các yếu tố kỹ thuật liên quan đã bị bộc lộ trong kiểu dáng công nghiệp của Duy Lợi.

Do ngày nộp đơn đăng ký sáng chế của hai chủ sở hữu của hai bằng độc quyền tại Nhật và Mỹ nêu trên đều xảy ra sau ngày mà đơn kiểu dáng công nghiệp của Duy Lợi được công bố tại VN, nên bản thân các sáng chế đó đều không đáp ứng các yêu cầu bảo hộ sáng chế theo pháp luật sáng chế của cả VN, Mỹ lẫn Nhật.

Đó là cơ sở pháp lý cho phép Duy Lợi tuần tự xúc tiến các vụ kiện yêu cầu hủy bằng liên quan, trước hết là vụ kiện tại Nhật sau khi sản phẩm đưa vào Nhật bị chủ Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số JP 3081528 ngăn cấm; tiếp theo là vụ kiện tại Mỹ khi Duy Lợi phát hiện quảng cáo của chủ Bằng độc quyền sáng chế số US 6467109 trên mạng Internet.

Bài học kinh nghiệm rút ra qua vụ võng xếp Duy Lợi là:

Việc tạo ra các tài sản trí tuệ là vấn đề của doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo khác trong xã hội. Các cơ quan SHTT quốc gia về cơ bản chỉ thực hiện vai trò ghi nhận và công bố quyền cho các tài sản này theo các điều kiện luật định. Trong khi thực hiện chức năng đó, ngay cả các cơ quan SHTT quốc gia mạnh nhất thế giới vẫn không đủ thông tin để thẩm định đối với mọi đơn đăng ký.

Do vậy, việc xuất hiện các văn bằng bảo hộ đã được cấp một cách không đúng luật là có thể xảy ra trên mọi thị trường, nhất là khi có các chủ thể cố tình đăng ký một cách không trung thực nhằm tạo dựng các rào cản pháp lý trong cạnh tranh. Theo đó, các hoạt động kiện tụng SHTT tương ứng là chuyện rất bình thường trên thương trường quốc tế.

Doanh nghiệp và các công ty tư vấn SHTT cần sớm nhận biết đầy đủ mối tương quan giữa các tài sản trí tuệ khác với nhãn hiệu, cụ thể trong trường hợp này, đó là việc nhận biết rằng, trong sản phẩm khung mắc võng có tồn tại các sáng chế có thể bảo hộ độc quyền trên thị trường quốc tế. Nếu các sáng chế này được đăng ký kịp thời vào các thị trường tiềm năng, sẽ tạo ra đồng thời lợi thế công nghệ và lợi thế pháp lý cho nhãn hiệu Duy Lợi trong thương mại quốc tế.

Cụ thể, Duy Lợi có thể cấp li-xăng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu các sáng chế của mình tại Nhật và Mỹ cho các đối tác sở tại. Nếu theo phương án cấp li-xăng sáng chế, Duy Lợi có thể xem xét phương án cấp đồng thời li-xăng sáng chế và li-xăng nhãn hiệu Duy Lợi, nếu nhãn hiệu Duy Lợi đã có được một mức độ nhận biết đủ cao ít ra là ở VN. Ngoài ra, Duy Lợi cũng có thể đàm phán theo hướng góp vốn bằng (sáng chế + nhãn hiệu Duy Lợi).

Nếu các giả thiết đó xảy ra, Duy Lợi có thể xâm nhập thị trường quốc tế không chỉ qua kênh thương mại (mua bán hàng hóa) thông thường với khá nhiều ràng buộc, mà còn có thể qua kênh đầu tư hoặc tài chính để khai thác tiềm lực thương mại của các đối tác nước ngoài trên thị trường sở tại.

Như vậy, bản thân việc thắng kiện theo các yêu cầu hủy bằng chỉ là các hành vi tự vệ muộn về mặt chiến thuật. Các bên đã bị hủy bằng và bất kỳ một bên thứ ba nào khác đều có thể sử dụng các kỹ thuật đó trong sản phẩm của họ để cạnh tranh với Duy Lợi. Một quan điểm quản trị tài sản trí tuệ mạch lạc sẽ cung ứng các ứng xử chiến lược hơn trong xây dựng và phát triển các lợi thế cạnh tranh của các nhãn hiệu VN, sử dụng tiềm lực trí tuệ để bổ khuyết cho tiềm lực vật chất thường là còn non yếu.

Nguồn: Thông tin pháp luật dân sự

[14] Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 7173 đã được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp cho Cơ sở Duy Lợi ngày 31.7.2003

[bvlq]

Leave a Reply