Không chốt sổ BHXH cho người lao động thì bị xử lý thế nào?

Khi người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ) thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động khi đó NSDLĐ có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. Tuy nhiên vì nhiều lí do NSDLĐ lại không chốt sổ BHXH cho NLĐ, vậy trong trường hợp này NLĐ phải làm gì và NSDLĐ sẽ bị xử lý ra sao?

Kế toán Gtax xin chia sẻ để bạn đọc tham khảo vấn đề nêu trên như sau:

Theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 47, Bộ Luật lao động 2012 về thời hạn trả sổ BHXH cho người lao động như sau:

“ 2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

==> Như vậy, theo nội dung trên NSDLĐ (hay doanh nghiệp) có trách nhiệm xác nhận và trả lại sổ BHXH cho NLĐ trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, việc chốt sổ BHXH phải được tiến hành ngay khi nghỉ việc.

Khi NSDLĐ không chốt sổ BHXH cho người lao động thì xử lý thế nào?

Trường hợp quá thời hạn theo qui định (07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động) nhưng NSDLĐ chưa hoặc không chốt sổ BHXH, người lao động cần khiếu nại tới Thanh tra Sở LĐ – TB và XH nơi NSDLĐ đặt trụ sở chính hoặc làm đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân nơi NSDLĐ đặt trụ sở chính để đòi quyền lợi cho mình.

Xem chi tiết nội dung: “Thủ tục hồ sơ chốt sổ bảo hiểm cho người lao động

Theo qui định khi có yêu cầu khiếu nại, cơ quan thanh tra lao động sẽ tiến hành kiểm tra. NSDLĐ không thực hiện đúng quy định về thời hạn thanh toán các khoản về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động bị xử phạt như sau:

– Từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động.

– Từ 4.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động.

– Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động.

– Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động.

– Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

Lưu ý: Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp có thể kéo dài thời hạn nêu trên nhưng không được quá 30 ngày, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, thuộc một trong các trường hợp sau:

– Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.

– Doanh nghiệp hoặc người lao động gặp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.

– Doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế hoặc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo qui định của Luật lao động.

[bvlq]

Leave a Reply